NHẬN ĐỊNH CHUYÊN GIA

ĐIỂM TIN FOREX

  • 19/1018:27

    Centeno: Dự báo cho thấy tốc độ phục hồi kinh tế khác nhau giữa các quốc gia. Tác động của các chủng biến thể của coronavirus mới và những khó khăn trong việc lấy và phân phối vắc xin đã cản trở tốc độ phục hồi toàn cầu, đặc biệt là ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Ngân hàng trung ương đang “quan trọng” trong việc ứng phó với đại dịch.
  • 19/1018:13

    Elderson, Giám đốc điều hành Ngân hàng Trung ương Châu Âu: cần phải có hành động chung khẩn cấp để đối phó với cuộc khủng hoảng khí hậu.
  • 19/1018:11

    Giám đốc điều hành Ngân hàng Trung ương Châu Âu Elderson: Rủi ro chính của biến đổi khí hậu nằm ở việc không hành động.
  • 19/1018:05

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Centeno: Chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục hỗ trợ phục hồi kinh tế.
  • 19/1018:03

    Ủy ban quản lý ECB Vasle: Dự kiến sẽ thảo luận về việc nâng giới hạn mua hàng siêu quốc gia.
  • 19/1018:01

    Ủy ban quản lý ECB Vasle: Sẵn sàng thảo luận về tính linh hoạt của việc giữ lại một số nhưng không phải tất cả kế hoạch mua trái phiếu khẩn cấp (PEPP).
  • 19/1018:01

    Ủy ban quản lý ECB Vasle: Mặc dù lợi suất danh nghĩa đã tăng nhưng môi trường tài chính thực tế vẫn thuận lợi.
  • 19/1018:01

    Ủy ban quản lý ECB Vasle: Nếu xu hướng kinh tế tiếp tục, Ngân hàng Trung ương châu Âu nên kết thúc Chương trình Mua trái phiếu khẩn cấp chống dịch bệnh (PEPP) vào tháng 3 năm sau.
  • 19/1018:00

    Ủy ban quản lý ECB Vasle: Có những dấu hiệu ban đầu cho thấy áp lực tiền lương có thể trở nên đáng kể, điều này sẽ mang lại rủi ro lạm phát.
  • 19/1017:58

    [Thị trường] Krone Na Uy tăng 1% so với đồng đô la lên mức cao nhất trong 4 tháng là 8,3375; krone Na Uy đạt mức cao nhất trong 15 tháng là 9,718 so với đồng euro.
  • 19/1017:55

    Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ: Một trận động đất 5,0 độ Richter đã xảy ra cách Tonga 59 km về phía tây.
  • 19/1017:35

    Giám đốc điều hành Goldman Sachs: Chúng ta cần định giá carbon.
  • 19/1017:18

    Tin thị trường: Tổng thống Nga Putin đã đồng ý tham dự cuộc họp G20 qua video.
  • 19/1017:07

    [Thị trường] Theo báo giá của Sina, đồng nhân dân tệ ở nước ngoài tăng trên 6,38 so với đô la Mỹ, tăng 0,7% trong ngày, đánh dấu mức tăng trong một ngày lớn thứ hai trong năm nay.
  • 19/1016:57

    [Thị trường] Đồng euro so với đô la Mỹ EUR / USD đã tăng hơn 0,50% trong ngày và hiện ở mức 1,1668.
  • 19/1016:45

    Ủy ban quản lý ECB Rennes: Thị trường hiểu rất rõ cơ chế phản ứng của ECB.
  • 19/1016:42

    Ủy ban điều hành Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Chúng tôi đang tránh giảm phát và chúng tôi đã thoát ra khỏi vùng nguy hiểm của giảm phát.
  • 19/1016:42

    Ủy ban Quản trị Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Chúng tôi đang tránh “Nhật Bản hóa” và đã bước ra khỏi vùng nguy hiểm của giảm phát. ➣ Nhật hóa: “Nhật hóa” là một thuật ngữ được các nhà kinh tế sử dụng để mô tả cuộc chiến chống giảm phát và tăng trưởng yếu của Nhật Bản trong 30 năm qua. Nó được đặc trưng bởi việc kích thích tiền tệ trên quy mô lớn nhưng không hiệu quả đã đẩy lợi suất trái phiếu xuống, trong khi gánh nặng nợ đang ngày càng tăng lên nhanh chóng.
  • 19/1016:42

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Lạm phát cơ bản rõ ràng là một thông số quan trọng được xác định bởi chính sách tiền tệ.
  • 19/1016:30

    24 cơ quan trong đó có Bộ Thương mại: Thúc đẩy nâng cấp chức năng của hệ thống thanh toán xuyên biên giới bằng Nhân dân tệ (CIPS) và thúc đẩy tạo thuận lợi cho thanh toán xuyên biên giới. Trên cơ sở tuân thủ luật pháp và quy định và các rủi ro có thể kiểm soát được, chúng tôi sẽ sử dụng công nghệ thông tin mới để cải thiện mức độ dịch vụ tài chính và nâng cao khả năng cạnh tranh của các dịch vụ tài chính của Trung Quốc trên thị trường quốc tế.
  • 19/1016:23

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Mức lạm phát hiện nay phù hợp với chiến lược mới của Ngân hàng Trung ương Châu Âu.
  • 19/1016:23

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Ngân hàng Trung ương Châu Âu có xu hướng không phản ứng quá mức.
  • 19/1016:22

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Không có dấu hiệu của áp lực tiền lương.
  • 19/1016:21

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Không có bằng chứng cho thấy có hiệu ứng lạm phát bậc hai.
  • 19/1016:21

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Không có bằng chứng cho thấy có một đợt tác động lạm phát thứ hai.
  • 19/1016:21

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Lạm phát cơ bản vẫn còn yếu.
  • 19/1016:20

    Ủy ban điều hành Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Có đầy đủ bằng chứng để chứng minh rằng lạm phát chỉ là tạm thời.
  • 19/1016:20

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Nếu lạm phát kéo dài hơn, nó có thể có tác động đến kỳ vọng.
  • 19/1016:20

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Dự kiến lạm phát sẽ ở mức vừa phải trong năm tới.
  • 19/1016:19

    Ủy ban Quản trị Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Một số yếu tố gây ra lạm phát kéo dài hơn dự kiến.
  • 19/1016:19

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Lạm phát khu vực đồng tiền chung châu Âu chủ yếu vẫn là tạm thời.
  • 19/1016:18

    Ủy ban Quản lý Ngân hàng Trung ương Châu Âu Rennes: Nền kinh tế Châu Âu vẫn còn rất yếu.
  • 19/1016:00

    [Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước: các doanh nghiệp than nên tối ưu hóa bố trí năng lực sản xuất và thúc đẩy các mỏ than có tiềm năng tăng sản lượng để giải phóng năng lực sản xuất càng sớm càng tốt] Hôm qua, Đảng ủy SASAC đã tổ chức một cuộc họp mở rộng để triển khai lại và tái thiết bố trí các doanh nghiệp trung ương nỗ lực đảm bảo cung cấp năng lượng trong mùa đông năm nay và mùa xuân năm sau. Cuộc họp nhấn mạnh, các công ty than cần tối ưu hóa bố trí công suất và phát huy các mỏ than có tiềm năng tăng sản lượng để giải phóng năng lực sản xuất càng sớm càng tốt. , và chủ động đảm bảo nhu cầu cho sản xuất điện và sưởi ấm và việc sử dụng than của quần chúng; sản xuất điện và các công ty làm nóng nên cố gắng hết sức để đảm bảo rằng các đơn vị phát điện có thể được mở càng nhiều càng tốt, thủy điện và các công ty điện hạt nhân phải “ tranh giành từng kilowatt giờ ”theo tiền đề đảm bảo an toàn; các công ty hóa dầu và mạng lưới đường ống phải tăng sản lượng và dự trữ, đồng thời liên tục cải thiện khả năng đảm bảo nguồn cung.
  • 【Báo giá】 Dầu thô WTI kỳ hạn tăng tới 1,00% trong ngày và hiện được báo giá ở mức 83,27 USD / thùng.
  • 19/1015:43

    Mức tăng sản lượng dầu thô của Indonesia vào năm 2021 có thể đạt 665.000 thùng / ngày.
  • 19/1015:43

    Theo Rosneft: Việc bốc dỡ dầu thô tại cảng Novorossiysk sẽ được khởi động lại vào thứ Ba theo kế hoạch.
  • 19/1015:31

    [Tỷ giá hối đoái] Nhân dân tệ trong nước / USD đóng cửa ở mức 6.3998 vào lúc 16:30 ngày 19 tháng 10, tăng 347 điểm so với ngày giao dịch trước.
  • 19/1015:31

    [Tỷ giá] Nhân dân tệ trong nước / USD đóng cửa ở mức 6.3998 vào lúc 16:30 ngày 19 tháng 10, tăng 347 điểm so với ngày giao dịch trước đó và là mức giá đóng cửa cao nhất kể từ ngày 16 tháng 6.
  • [Tiếp thị] Theo Chinamoney.com, đồng nhân dân tệ trong nước so với đô la Mỹ đã tăng trên mốc 6,40; theo Sina, đồng nhân dân tệ nước ngoài hiện đang giao dịch ở mức 6,3952 so với đô la Mỹ.
  • 19/1014:48

    UBS: Sự lạc quan trên thị trường chứng khoán là hợp lý, chỉ số S&P 500 tăng 1,8% trong tuần trước, mức tăng hàng tuần lớn nhất kể từ tháng 7 năm ngoái. Các nhà kinh tế của UBS vẫn tin rằng sự lạc quan trên thị trường chứng khoán là hợp lý khi nền kinh tế và doanh thu tăng trưởng mạnh. UBS cho biết dự kiến các vấn đề về chuỗi cung ứng sẽ chỉ kéo 1% thu nhập trên mỗi cổ phiếu vào năm 2021, điều này không nghiêm trọng so với dự báo tăng trưởng lợi nhuận 45% của chúng tôi trong năm nay. Chúng tôi vẫn tin rằng Fed sẽ nhìn thấu bản chất của tình trạng lạm phát tăng vọt hiện tại. Dữ liệu lạm phát trung bình ở Hoa Kỳ cho thấy Fed không cần phải hành động. Khi thị trường lao động tiếp tục phục hồi, lợi suất trái phiếu kho bạc dự kiến sẽ tăng lên 1,8% trong năm nay.

Giới thiệu

Bài viết này giới thiệu khái niệm về các chỉ báo kỹ thuật và giải thích cách sử dụng chúng trong phân tích. Chúng ta sẽ tìm hiểu sự khác biệt giữa chỉ báo dẫn dắt (leading indicator) chỉ báo có độ trễ (laging indicator), cũng như xem xét lợi ích và nhược điểm của chúng. Từ đó, bạn có thể biết cách đọc các chỉ báo dao động và tín hiệu từ chỉ báo. Cuối cùng ta sẽ đi vào phân tích từng loại chỉ báo với ví dụ cụ thể.

Chỉ báo kỹ thuật là gì?

Một chỉ báo kỹ thuật là một chuỗi điểm dữ liệu được tạo ra bằng những công thức tính toán dữ liệu giá. Dữ liệu giá bao gồm một vài hoặc tất cả những thông tin sau: giá mở cửa, giá đóng cửa, giá cao nhất, giá thấp nhất, trong một khoảng thời gian. Tùy vào loại chỉ báo mà nó có cách thức sử dụng các dữ liệu trên là khác nhau, thậm chí có thể kết hợp thêm cả khối lượng giao dịch…

Một điểm dữ liệu được tạo ra sau khi dữ liệu giá được nhập vào công thức. Ví dụ: trung bình của của 3 mức giá đóng cửa là một điểm dữ liệu [(41 + 43 + 43) / 3 = 42.33].

Tuy nhiên, một điểm dữ liệu không cung cấp nhiều thông tin và không thể đóng vai trò là một chỉ báo hữu ích. Một chỉ báo kỹ thuật bao gồm nhiều điểm dữ liệu trong một khoảng thời gian và có thể được hiển thị cùng với biểu đồ giá hoặc ở một phần tách biệt phía trên/dưới biểu đồ giá, từ đó trader có thể dễ dàng so sánh chuyển động của giá với chuyển động của chỉ báo.

Chỉ báo kỹ thuật cho ta biết những gì?

Một số chỉ báo, chẳng hạn như đường trung bình di động (MA), có công thức tính toán tương đối dễ hiểu. Ngược lại có những chỉ báo, chẳng hạn như Stochatics, có các công thức phức tạp và đòi hỏi nghiên cứu sâu để hiểu đầy đủ. Mặc dù có các công thức tính toán với độ phức tạp khác nhau, các chỉ báo kỹ thuật mang lại những thông tin hữu ích về sức mạnh và hướng đi của hành động giá cơ bản.

Đường trung bình động giản đơn (SMA) là một chỉ báo tính giá trị trung bình của giá trong một khoảng thời gian nhất định. Chúng ta hãy xem một ví dụ về SMA 10 kỳ trên biểu đồ Veritas (VRTSE) dưới đây. Đường SMA thể hiện hành động giá và xu hướng mượt mà hơn, cho trader một cái nhìn khách quan về xu hướng hiện tại.

Tại sao chỉ báo kỹ thuật nên được sử dụng?

Chỉ báo kỹ thuật có ba chức năng: cảnh báo, xác nhận dự đoán.

  • Chỉ báo kỹ thuật cho chúng ta biết những thông tin đằng sau hành động giá. Nếu một chỉ báo cho thấy động lượng đang suy yếu thì đó là một lời cảnh báo rằng giá có thể sắp phá vỡ hỗ trợ. Ngược lại, nếu trader phát hiện một tín hiệu phân kỳ tăng thì rất có thể giá sắp phá vỡ kháng cự.
  • Tín hiệu từ chỉ báo kỹ thuật có tác dụng xác nhận các tín hiệu phân tích khác. Ví dụ, vào thời điểm giá phá vỡ một mức nào đó, tín hiệu giao cắt đường trung bình động giúp xác nhận độ tin cậy của cú phá vỡ.
  • Theo một số nhà đầu tư và trader, các chỉ báo có thể dự đoán hướng của giá trong tương lai.

Chỉ báo kỹ thuật – Một vài lưu ý khi sử dụng

Lưu ý trong việc phân tích với chỉ báo

Đôi khi các trader mải tập trung phân tích chỉ báo mà quên mất hành động giá. Nên nhớ, công dụng của chỉ báo là lọc ra hành động giá theo công thức tính riêng, nghĩa là chỉ báo không trực tiếp phản ánh hành động giá. Phân tích chỉ báo và phân tích hành động giá nên được sử dụng kết hợp.

Chỉ báo kỹ thuật có thể đưa ra những dấu hiệu mua/bán sai. Ví dụ dưới đây trên biểu đồ Rambus (RMBS) giải thích điều đó. Tín hiệu phân kỳ tăng trên chỉ báo MACD cho ta tín hiệu mua, nhưng biểu đồ giá xuất hiện một mô hình tam giác giảm cho thấy trader không nên vào lệnh mua trong trường hợp này. Đây là một quyết định đúng đắn vì sau đó giá đã phá vỡ hỗ trợ để giảm sâu hơn. Tóm lại, tín hiệu giao dịch từ chỉ báo kỹ thuật nên được xem xét kĩ lưỡng cùng với các công cụ phân tích kỹ thuật khác.

Là một phần của phân tích kỹ thuật, việc đọc hay phân tích các chỉ báo kỹ thuật là một môn nghệ thuật hơn là một môn khoa học. Một chỉ báo có thể tạo ra những tín hiệu khác nhau khi được áp dụng với các sản phẩm giao dịch khác nhau. Để sử dụng thành thạo một chỉ báo đòi hỏi trader phải luyện tập nghiên cứu và phân tích thường xuyên.

Lưu ý trong việc lựa chọn chỉ báo

Đến nay đã có hàng trăm chỉ báo kỹ thuật ra đời, thậm chí mỗi tuần chúng ta lại có một chỉ báo mới. Sở dĩ các chỉ báo kỹ thuật được phát triển hàng loạt như vậy là nhờ các phần mềm phân tích kỹ thuật cho phép chúng ta tự tạo ra chỉ báo. Với số lượng lớn chỉ báo như vậy, thật khó để trader lựa chọn được một chỉ báo tốt nhất để theo đuổi, bởi vì chỉ có một vài trong hàng trăm chỉ báo thực sự hiệu quả. Vì vậy, lời khuyên cho trader là hãy lựa chọn những chỉ báo đã ra đời từ lâu những vẫn duy trì giá trị và vẫn được sử dụng phổ biến cho đến tận ngày hôm nay.

Khi tìm kiếm một chỉ báo để phân tích, trader hãy nhớ lựa chọn cẩn thậnvừa phải. Tốt nhất, trader chỉ nên tập trung vào hai hoặc ba chỉ báo và tìm hiểu những đặc điểm cốt lõi của chúng. Ngoài ra, trader cần lưu ý tránh sử dụng nhiều chỉ báo có cùng chức năng và tạo ra cùng một tín hiệu, mà nên sử dụng những chỉ báo có tác dụng bổ sung lẫn nhau. Ví dụ, việc sử dụng cùng lúc Stochastics và RSI sẽ là vô nghĩa vì cả hai đều là chỉ báo động lượng và đều tạo ra những tín hiệu quá mua/quá bán.

Chỉ báo dẫn dắt – Leading Indicators

Hầu hết các chỉ báo dẫn dắt như Commodity Channel Index (CCI), Momentum, Relative Strength Index (RSI), Stochastic Oscillator và Williams %R có vai trò thể hiện động lượng của giá trong một khoảng thời gian nhất định, trong đó khoảng thời gian sẽ là số kỳ của chỉ báo. Ví dụ, chỉ báo dao động Stochastic 20 kỳ sẽ sử dụng dữ liệu hành động giá của 20 ngày (khoảng một tháng giao dịch) gần nhất để tính toán dữ liệu của chỉ báo.

Chỉ báo động lượng – Momentum Oscillators

Nhiều chỉ báo dẫn dắt đóng vai trò là những chỉ báo động lượng. Nói chung, chỉ báo động lượng thể hiện tỷ lệ biến động giá của một sản phẩm giao dịch. Khi giá tăng, động lượng sẽ tăng. Giá tăng nhanh bao nhiêu thì động lượng tăng mạnh bấy nhiêu. Động lượng sẽ giảm dần khi giá bắt đầu đi ngang, nhưng điều này không nhất thiết là một tín hiệu đảo chiều giảm mà đơn giản chỉ là động lượng đang quay trở lại mức trung bình.

Các chỉ báo động lượng sử dụng các công thức khác nhau để đo lường biến động giá. RSI (một chỉ báo động lượng) so sánh biến động giá trung bình của các giai đoạn tăng giá với biến động giá trung bình của các giai đoạn giảm giá. Trong biểu đồ IBM dưới đây, chỉ báo RSI được thiết lập ở 14 kỳ và có thể xác định những tín hiệu quá mua (>70) và quá bán (<30) hay giao cắt đường trung tâm. Có thể thấy, RSI là một chỉ báo dẫn dắt khi nó cho ta biết những tín hiệu mua bán sớm hơn so với giá, nhưng những tín hiệu đó không phải lúc nào cũng dự báo chính xác sự đảo chiều.

Chỉ báo dẫn dắt – Lợi ích và hạn chế

Chỉ báo dẫn dắt lợi hại ở chỗ chúng thường xuyên mang lại rất nhiều tín hiệu vào lệnh và thoát lệnh sớm, nhờ đó trader sẽ có nhiều cơ hội giao dịch hơn. Ngoài ra, những tín hiệu sớm từ chỉ báo dẫn dắt có thể cảnh báo sức mạnh hay sự suy yếu của xu hướng hiện tại. Loại chỉ báo này có thể được sử dụng để giao dịch theo xu hướng. Trong xu hướng tăng, cơ hội mua xuất hiện khi chỉ báo cho tín hiệu quá bán; ngược lại, trong xu hướng giảm, cơ hội bán xuất hiện khi chỉ báo cho tín hiệu quá mua.

Mặc dù các tín hiệu giao dịch sớm mang lại nhiều cơ hội giao dịch và giúp gia tăng lợi nhuận, chúng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn do tỷ lệ gặp phải tín hiệu sai là rất cao. Nên nhớ rằng trader giao dịch càng nhiều không những sẽ càng dễ bị thua lỗ mà còn phải chịu mức phí giao dịch rất lớn, và điều này sẽ ăn mòn lợi nhuận cũng như gây tổn hại đến sức chịu đựng của tài khoản giao dịch.

Chỉ báo hay chỉ báo có độ trễ Lagging Indicators

Những chỉ báo phổ biến như đường trung bình động lũy thừa (EMA – Exponential moving averages), đơn giản (SMA – Simple moving averages), tỉ trọng tuyến tính (WMA – Weighted moving average) hay đường trung bình động hội tụ phân kỳ (MACD – Moving average convergence divergence) thuộc loại chỉ báo hoạt động theo xu hướng giá và hiếm khi hoặc không bao giờ dẫn dắt (đi trước) giá. Loại chỉ báo này hoạt động tốt nhất trong thị trường có xu hướng mạnh và thường kém hiệu quả trong thị trường đi ngang.

Biểu đồ S&P 500 ($SPX) cho ta ví dụ về những tín hiệu giao cắt của SMA 20 VÀ SMA 100. Dễ thấy một xu hướng tăng hình thành từ tháng 10/1998 và các ô hình chữ nhật thể hiện giai đoạn giá đi ngang. Ngoài tín hiệu bán vào tháng 8/1998 (khi SMA 20 cắt xuống SMA 100) và tín hiệu mua vào tháng 11/1998 (khi SMA 20 cắt lên SMA 100), những tín hiệu còn lại do xuất hiện trong giai đoạn giá đi ngang nên rất thiếu độ tin cậy và trở thành tín hiệu sai.

Nếu số kỳ của những đường SMA này dài hơn (ví dụ SMA 50 và SMA 200) thì độ nhiễu của các tín hiệu giao cắt sẽ ít hơn. Ngược lại, nếu những đường SMA này ngắn kỳ hơn (ví dụ SMA 10 và SMA 50), thì sẽ có nhiều tín hiệu giao cắt hơn và vì thế, độ nhiễu hay các tín hiệu sai sẽ nhiều hơn.

Chỉ báo theo xu hướng – Lợi ích và hạn chế

Một trong những ưu điểm của các chỉ báo theo xu hướng là chúng có thể giúp trader xác định xu hướng chính và giao dịch theo xu hướng đó lâu nhất có thể. Xu hướng kéo dài càng lâu hoặc càng bền vững thì việc giao dịch với loại chỉ báo này mang lại lợi nhuận càng lớn.

Tuy nhiên, điều này cũng kéo theo tín hiệu từ những chỉ báo theo xu hướng thường xuất hiện trễ và tạo ra ít cơ hội giao dịch hơn, do vậy tỉ lệ lợi nhuận/rủi ro sẽ kém đi.

Một hạn chế nữa của các chỉ báo theo xu hướng là chúng hoạt động không tốt trong thị trường đi ngang. Thực tế chỉ ra rằng thị trường đi ngang trong 80% tổng thời gian, do vậy trader phải thực sự kiên nhẫn khi sử dụng loại chỉ báo này để tìm kiếm cơ hội giao dịch đáng tin cậy.

Chỉ báo kỹ thuật – Những thách thức khi sử dụng

Khi sử dụng các chỉ báo kỹ thuật, trader sẽ phải đánh đổi một trong hai thứ sau: sự nhạy bén hoặc độ tin cậy. Trong thực tế, không có một loại chỉ báo nào vừa nhạy bén với giá, đưa ra tín hiệu sớm và vừa tạo ra ít tín hiệu sai. Nếu chúng ta tăng độ nhạy bén của chỉ báo bằng cách giảm số kỳ, tín hiệu từ chỉ báo sẽ xuất hiện sớm hơn và nhiều hơn, nhưng số tín hiệu sai sẽ tăng. Ví dụ, RSI 5 kỳ sẽ nhạy bén với giá hơn những cũng tạo ra nhiều tín hiệu sai hơn RSI 14 kỳ. Nếu ta giảm độ nhạy bằng cách tăng số kỳ, thì tín hiệu sẽ đáng tin cậy hơn, nhưng sẽ xuất hiện trễ hơn và ít hơn, và điều này làm cho tỷ lệ rủi ro/lợi nhuận bị kém đi. Ví dụ, RSI 14 sẽ tạo những tín hiệu trễ và mang lại ít cơ hội giao dịch hơn nhưng tín hiệu sai sẽ ít hơn. Tóm lại, việc lựa chọn và điều chỉnh chỉ báo sao cho phù hợp phụ thuộc vào phong cách giao dịch và mục tiêu của từng trader.

Các loại chỉ báo dao động

Chỉ báo dao động gồm các chỉ báo di chuyển quanh một đường (mức) trung tâm hoặc trong một phạm vi giới hạn bởi hai mức cực đại (vùng quá mua/quá bán) khi giá trị của chúng thay đổi theo thời gian. So với những chỉ báo tích lũy như On Balance Volume (OBV), những chỉ báo dao động thường không di chuyển theo một xu hướng nhất định mà hầu hết thời gian chúng biến động lên xuống.

Ở hình ảnh so sánh hai loại chỉ báo ở trên, ta dễ thấy trong cùng một khoảng thời gian hai năm, chỉ báo MACD dao động quanh mức 0 hầu hết khoảng thời gian. Mặc dù MACD không có vùng quá mua và quá bán, chuyển động của nó vẫn bị hạn chế, do vậy MACD không thể hình thành xu hướng lâu dài. Ngược lại, chỉ báo OBV đã bắt đầu một xu hướng tăng từ tháng 3/2003 và kéo dài đến tận năm sau. Điều này cho thấy OBV không bị giới hạn và có thể tạo ra xu hướng dài hạn.

Chúng ta sẽ đi vào phân tích hai cách dùng phổ biến của chỉ báo dao động: phân tích sức mạnh của động lượng xác định các vùng quá mua và quá bán.

Cách dùng thứ nhất – Chỉ báo dao động được sử dụng để phân tích sức mạnh của động lượng

MACD (Moving average convergence divergence – đường trung bình hội tụ phân kỳ) hay ROC (Rate of change – Tỷ lệ biến động) là những chỉ báo dao động quanh một đường hoặc một mức trung tâm. Ví dụ, nếu MACD di chuyển trên mức 0 (mức trung tâm) thì động lượng được coi là tăng và nếu MACD di chuyển dưới mức 0 thì động lượng được coi là giảm.

Chỉ báo MACD

Chỉ báo MACD là một chỉ báo độc đáo, ở chỗ nó vừa là một chỉ báo dẫn dắt và vừa là một chỉ báo có độ trễ. Yếu tố dẫn dắt được thể hiện ở chỗ khi chỉ báo di chuyển lên xuống quanh mức 0, nó sẽ cho ta biết về sức mạnh của động lượng. Thêm vào đó, sự giao cắt của hai đường tín hiệu của MACD là những tín hiệu mua/bán trễ và giúp trader xác định xu hướng.

Chỉ báo ROC

ROC là chỉ báo đo lường biến động giá theo phần trăm trong một khoảng thời gian. Giống như MACD, chỉ báo này cũng lấy mức 0 làm mức trung tâm. Khi chỉ báo di chuyển trên mức 0, phần trăm biến động giá đạt giá trị dương, nghĩa là thị trường tăng. Khi chỉ báo di chuyển dưới mức 0, phần trăm biến động giá đạt giá trị âm, cho thấy thị trường giảm.

Ta có thể thấy ở hình trên, biến động của ROC được giới hạn bởi hai mức cực đại (+20 và -20). Tuy nhiên hai mức này chưa chắc đã là vùng quá mua/quá bán vì điều này còn phụ thuộc vào dữ liệu quá khứ và tùy vào từng loại sản phẩm giao dịch. Vì thế, giống như MACD, chỉ báo này không có tác dụng xác định các vùng quá mua và quá bán.

Cách dùng thứ hai – Chỉ báo dao động được sử dụng để xác định các vùng quá mua và quá bán

Các chỉ báo, như RSI (Relative Strength Index – Chỉ số sức mạnh liên quan) và Stochastics, di chuyển giữa hai vùng cực đại hay còn gọi là vùng quá mua/quá bán.

Stochastics/RSI

Với RSI, vùng quá mua được thiết lập từ mức 70 trở lên và vùng quá bán là từ mức 30 trở xuống. Thị trường được coi là quá mua khi RSI di chuyển lên trên mức 70, và quá bán nếu RSI di chuyển xuống dưới mức 30. Tương tự với Stochastics, thị trường được coi là quá mua khi chỉ báo này di chuyển lên trên mức 80 và quá bán khi nó di chuyển xuống dưới mức 20. Tùy theo phong cách giao dịch và độ biến động của thị trường, trader có thể điều chỉnh vùng quá mua/quá bán bằng những con số khác.

CCI (Commodity Channel Index) – Chỉ số kênh hàng hóa

CCI là chỉ báo đo lường chênh lệch giữa giá hiện tại và giá trung bình trong một khoảng thời gian. Khác với các chỉ báo RSI hay Stochastics – những chỉ báo không bao giờ di chuyển lên trên mức 100 hay xuống dưới mức 0, CCI trên lý thuyết không có bất cứ mức giới hạn, mức cực đại hay vùng quá mua/quá bán nào cả. Tuy nhiên, CCI trong thực tế thường di chuyển giữa hai mức 100 và -100, và chính vì vậy chỉ báo này vẫn được áp dụng để xác định các vùng quá mua và quá bán. Mặc dù, mức 100 và -100 được coi là vùng quá mua và quá bán mặc định, trader có thể điều chỉnh các mức này sao cho phù hợp với phong cách giao dịch và độ biến động của thị trường.

Chỉ báo dao động – Ưu và nhược điểm

Các chỉ báo dao động có hai cách sử dụng là: xác định sức mạnh của động lượngxác định các vùng quá mua/quá bán. Hai chỉ báo tiêu biểu cho cách dùng đầu tiên có thể kể đến MACD và ROC, và ở cách dùng thứ hai, chúng ta có RSI, Stochastics và CCI.

Mặc dù chúng ta có thể xác định các vùng quá mua/quá bán với một số chỉ báo theo cách sử dụng đầu tiên, chẳng hạn như ROC với hai mức +20 và -20, chúng thường không hoạt động hiệu quả. Trader hãy lựa chọn chỉ báo sao cho phù hợp với mục đích sử dụng.

Các tín hiệu từ chỉ báo dao động

Các chỉ báo dao động tạo ra tín hiệu mua/bán theo nhiều cách khác nhau. Một số tín hiệu xuất hiện khá sớm trong khi một số xuất hiện sau khi xu hướng đã hình thành. Ngoài tín hiệu mua/bán, các chỉ báo dao động còn tạo ra các tín hiệu cảnh báo sự đảo chiều tiềm năng. Trong quá trình giao dịch, trader nên sử dụng chỉ báo kỹ thuật kết hợp với các công cụ phân tích khác như khối lượng giao dịch, mô hình giá hay các mức hỗ trợ/kháng cự.

Phân kỳ tăng và phân kỳ giảm

Phân kỳ là một trong những tín hiệu cảnh báo đảo chiều khá quan trọng được tạo ra từ chỉ báo dao động và nhiều chỉ báo khác. Có hai loại phân kỳ là phân kỳ tăngphân kỳ giảm.

Phân kỳ giảm xảy ra khi giá tiếp tục tăng và tạo các đỉnh mới cao hơn trong khi chỉ báo kỹ thuật tạo các đỉnh mới thấp hơn. Biểu đồ Staples (SPLS) ở trên cho ta ví dụ về phân kỳ giảm xuất hiện trên chỉ báo MACD. Nó cho thấy mặc dù giá vẫn đang tăng nhưng động lượng đang yếu đi, vì thế một sự đảo chiều giảm có thể sắp xảy ra. Lưu ý: phân kỳ giảm không phải lúc nào cũng là một tín hiệu đảo chiều giảm, nhất là trong một xu hướng tăng mạnh.

Phân kỳ tăng xảy ra khi giá tiếp tục giảm và tạo các đáy mới thấp hơn trong khi chỉ báo kỹ thuật tạo các đáy mới cao hơn. Biểu đồ Sprint (S) ở trên cho ta ví dụ về phân kỳ tăng xuất hiện trên chỉ báo RSI. Nó cho thấy mặc dù giá vẫn đang giảm nhưng động lượng đang mạnh lên, vì thế một sự đảo chiều tăng có thể sắp xảy ra. Tín hiệu đảo chiều được xác nhận khi giá phá vỡ đường xu hướng giảm. Lưu ý: phân kỳ tăng không phải lúc nào cũng là một tín hiệu đảo chiều tăng, nhất là trong một xu hướng giảm mạnh.

Phân kỳ có thể xuất hiện trên những chỉ báo khác ngoài chỉ báo động lượng như OBV (On Balance Volume), CMF (Chaikin Money Flow), đường tích lũy phân phối, v.v. Biểu đồ Expeditor (EXPD) ở trên cho ta ví dụ về một phân kì giảm xuất hiện trên chỉ báo khối lượng OBV.

Vùng quá mua và quá bán

Các chỉ báo xác định vùng quá mua và quá bán như Stochastics hay RSI sẽ hoạt động tốt nhất trong thị trường đi ngang. Tuy nhiên, trader vẫn có thể giao dịch theo xu hướng bằng những chỉ báo này. Biểu đồ Cisco (CSCO) dưới đây cho ta thấy điều đó.

Chỉ báo Slow Stochastic 10 kỳ tạo ra rất nhiều tín hiệu quá mua và quá bán, nhưng hiện tại thị trường đang trong một xu hướng tăng mạnh nên chúng ta sẽ chỉ vào lệnh khi tín hiệu quá bán (Stochastic di chuyển bên dưới mức 20) xuất hiện để đi theo xu hướng tăng. Lưu ý, cách giao dịch tốt nhất là hãy chờ cho Stochastic quay trở lại lên trên mức 20 (hoặc tốt hơn nữa là đợi Stochastic vượt lên mức 50) để thiết lập lệnh mua. Thêm vào đó, tín hiệu phân kỳ tăng (hình oval màu xanh) đã củng cố độ tin cậy cho tín hiệu mua.

Biểu đồ Microsoft (MSFT) dưới đây cho ta ví dụ về các tín hiệu trên chỉ báo RSI. Mặc dù xu hướng chủ đạo là giảm nhưng chúng ta có 3 cơ hội mua từ 3 tín hiệu phân kỳ tăng xuất hiện tại vùng quá bán của RSI (được đánh số 1,2,3). Dẫu vậy, cách giao dịch tốt nhất vẫn là đi theo xu hướng. Ta dễ thấy các cơ hội bán khi RSI tiếp cận vùng quá mua vẫn mang lại lợi nhuận cao hơn hẳn.

Sự giao cắt đường trung tâm

Tín hiệu giao cắt đường trung tâm cho chúng ta biết độ mạnh yếu của động lượng hiện tại. Tín hiệu này thường được áp dụng trên các chỉ báo như MACD, CMF hay ROC, và cả ba đều lấy mức 0 là đường trung tâm. Cơ hội mua xuất hiện khi chỉ báo cắt lên trên đường trung tâm (động lượng tăng), và cơ hội bán xuất hiện khi chỉ báo cắt xuống dưới đường trung tâm (động lượng giảm).

Biểu đồ Intel (INTC) dưới đây minh họa các tín hiệu từ hai chỉ báo MACD và ROC. Bên cạnh một số tín hiệu giao cắt thành công, cả hai chỉ báo cũng tạo ra khá nhiều tín hiệu nhiễu (từ cuối tháng 3 đến giữa tháng 5).

Sự giao cắt đường trung tâm cũng có thể xác nhận độ tin cậy cho các tín hiệu trước đó, như ở ví dụ trên biểu đồ Intel (INTC) dưới đây. Một tín hiệu phân kỳ tăng đã xuất hiện trên chỉ báo MACD, sau đó đường MACD đã cắt lên trên đường tín hiệu vào tháng 12 và qua đó xác nhận tín hiệu phân kỳ. Vào đầu tháng 1/1998, cơ hội mua xuất hiện khi chỉ báo MACD cắt lên trên đường tín hiệu (mức 0) và giá phá vỡ đường xu hướng giảm. Một số trader sẽ cho rằng cơ hội mua này xuất hiện khá trễ, nhưng thực tế nó mang lại độ tin cậy cao giúp cho trader tránh được rủi ro.

Trong ví dụ về chỉ báo CMF trên biểu đồ IBM dưới đây, ta dễ nhận ra chỉ báo dòng tiền đã bắt đầu giảm từ tháng 7, sau đó cắt xuống dưới mức 0 (đường trung tâm) vào tháng 8. Mặc dù sau sự giao cắt, giá đã không giảm ngay lập tức, nhưng cơ hội bán đã được củng cố khi mô hình hai đỉnh hoàn thành vào tháng 9.

Tín hiệu từ chỉ báo dao động – Ưu và nhược điểm

Các tín hiệu quá bán/quá mua từ những chỉ báo như Stochastic hay RSI không phải là tín hiệu vào lệnh. Chúng nên được xem xét kỹ lưỡng cùng với hành động giá và các chỉ báo khác.

Cách giao dịch tốt nhất là đi theo xu hướng chính. Trong xu hướng tăng, hãy tìm những tính hiệu quá bán, phân kỳ tăng, sự giao cắt hai đường tín hiệu MACD và sự giao cắt đường trung tâm. Ngược lại với xu hướng giảm. Ngoài ra, trader có thể tìm thêm dấu hiệu từ các mô hình giá, mô hình nến, đường xu hướng, hỗ trợ/kháng cự hay những công cụ phân tích khác để xác nhận tín hiệu từ các chỉ báo.

Bình luận

Đăng ký nhận tin từ VNFX

Để luôn được cập nhật tình hình thị trường sớm nhất